Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Thơ LÀNG


                      Bùi Văn Tạo

                                        LÀNG

                      Làng xưa còn có cây đa cũ
                      Bóng trải xanh dài rộn tiếng chim
                      Vây làng ấp ủ tre xanh ngát
                      Dậu vườn dâm bụt nở hoa xinh

                      Làng xưa ngô lúa vui no ấm
                      Bến nước đường quê đợi em về
                      Nhớ mùa tim tím hoa xoan nở
                      Còn thoảng hương thơm mái tóc thề
                 
                      Làng qua năm tháng nhiều thay đổi
                      Lúa  mượt xanh đồng có ít hơn
                      Cau cũng vắng dần trưa in bóng
                      Bướm nhớ vườn rau cứ rập rờn

                      Làng nay tường gạch sân xây mới
                      In dấu tháng năm vật đổi dời
                      Dưa cà khoai sắn giờ xa vắng
                      Vui mà tha thiết chuyện bao đời !

                      Làng mãi trong lòng niềm thương cảm
                      Nắng sớm mưa chiều những người thân
                      Đất trời trong ánh bình minh rọi
                      Xúc động ngày lên biết bao lần !
                                            

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Văn: THÚ CHƠI CÂY CẢNH PHỐI ĐÁ VÔI

Bùi Văn Tạo

                      THÚ CHƠI CÂY CẢNH PHỐI ĐÁ VÔI

      Thú chơi cây cảnh có rất lâu trong đời sống người Việt. Người chơi hoa kiểng gửi gắm tâm tình, ý tưởng và có khi tính cách của mình qua tạo thế cây. Khi đã vào hàng nghệ nhân, người chơi cây khai thác được các ưu thế kiểu dáng cây tự nhiên, chỉnh sửa rồi đặt cho nó những cái tên hay và ý nghĩa như: huyền chi lạc địa, long bàn hổ phục, phụ tử giao chi,…Bên cạnh thú chơi cây cảnh còn có thú chơi non bộ đá vôi với những luật tạo hình nghiêm ngặt mà hấp dẫn. Hai loại hình nghệ thuật nầy gặp nhau tạo nên loại hình mới: cây cảnh phối đá vôi, vừa đẹp vừa giàu tính sáng tạo.
     Nếu đơn lẻ riêng cây, một cây kiểng đẹp phải có tuổi đời khoảng ba mươi năm trở lên, thân có độ to tương đối, cành chi dích dắc thể hiện từng trải năm tháng, nắng mưa, dáng thế trực hoành tuỳ cây và sở thích của người chơi. Đối với non bộ, để có ngọn giả sơn ấn tượng phải có những tảng đá đẹp, liên kết nhau theo một qui tắc nghệ thuật của thú chơi nầy. Việc dựng non bộ cũng khá công phu bởi phải đẹp như núi non thật và tránh những điêu cấm kỵ như xuyên tâm, triệt đạo,…Còn cây kiểng phối đá thì có thể vận dụng hài hoà để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật sống mà vẻ đẹp có thể đi xa hơn. Lợi dụng ưu điểm đá vôi mềm, dễ tạo hình và thấm nước từ đáy lên đỉnh nên người ta dùng đá vôi cục nhỏ xếp lại thành cụm to, cao rồi đặt cây cảnh lên. Khi rễ đã bám chằng chịt vào đá và phát triển thì cụm đá trở thành gốc cây, lúc đó cây có bộ đế vững vàng, tác giả tạo hình chỉ việc sửa chi thế, còn gốc cây càng ngày vẻ cổ xưa càng được biểu lộ. Tuy đá vôi chưa phải là loại quí hiếm, nhưng cũng có những tảng to, hình dạng đẹp, dân chơi cây cảnh gọi là đá một. Lợi dụng thế đứng vững vàng, đường nét nghệ thuật của những tảng nầy, người ta đặt nó lên hồ, chậu to rồi chọn vị trí phù hợp mà cho cây bám đá (thường là cây sanh), làm thế nào để nhìn toàn cảnh đá và cây trông đẹp hơn. Khi cây đã sống, rễ sẽ phát triển ôm tảng đá và men dần xuống nước. Từ đó, rễ ngày một lớn thêm, hình thù như trăn bò, rắn lượn, còn thân cây phát triển theo hướng vươn ra bờ vực cheo leo, buông rễ phụ xuống mặt hồ giống bức rèm thiên nhiên treo giữa chốn hoang sơ. Người ta còn phối trí cây kiểng và non bộ bằng cách dựng đá thành núi non, đồng bằng, sông rạch rồi đặt vào chỗ hợp lý những cây kiểng đẹp. Loại hình nầy tạo cho người xem hình tượng về những miền quê bên sông, bên núi, có cây cổ thụ đứng đầu làng hay lặng lẽ chốn sườn non. Và cứ thế, cây in dấu thời gian năm tháng, đá rêu phong dầu dãi, một vài chú tiều làm bằng sứ hay mấy con trâu đất nằm gặm cỏ bên sông, đưa người thưởng ngoạn về một không gian làng Việt cổ xưa, nên thơ đáng nhớ. Ngay cả trong phòng khách sang trọng, chậu kiểng mi ni chỉ một cây dáng thế nghiêng nghiêng như người con gái duyên dáng chào khách, được cân đối bởi tảng nhỏ đá đẹp đứng bên, sẽ tăng thêm ấn tượng cho những lần gặp gỡ.
       Về nguyên liệu trong loại hình nghệ thuật nầy ngoài đá vôi có nơi còn dùng đá ong. Thế nhưng người chơi phải chú ý đến việc bảo vệ môi trường cảnh quang thiên nhiên. Đá sử dụng phải từ những nơi được phép khai thác. Vẻ đẹp cây cảnh sân vườn có thể ví như văn chương trên trang giấy, còn môi trường thiên nhiên là văn chương của cả quê hương, đất nước.
       Nói chung, cây và đá là những vật vô tri, nhưng khi có bàn tay khối óc con người tác động nghệ thuật vào thì cây và đá lên tiếng nói tâm hồn. Một cây kiểng đứng riêng lẻ chỉ ở mức đẹp bình thường, một tảng đá vôi chưa nói được hình ảnh của núi sông, nhưng khi ghép chung lại theo một trật tự nào đó thì vẻ đẹp sẽ cộng hưởng. Tài năng của các nghệ nhân, của những người đam mê cây cảnh được bộc lộ trong tạo dáng cây, làm non bộ và phối đá cho cây kiểng. Trong cuộc sống ngày nay, khoa học kỹ thuật đang đà phát triển, nhiều miền quê đã trở thành đô thị, phong cảnh thiên nhiên lắm chỗ bị thu hẹp thì hoa kiểng trở thành nhu cầu như cơm ăn nước uống hằng ngày. Nghệ thuật cây cảnh phối đá là sự phối trí hài hoà giữa cây và đá, có khi là nét chấm phá, có khi liên kết tô bồi, thẩm mỹ cho nhau mà sản phẩm là những vật thể mô phỏng thiên nhiên sống động, hữu tình.

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012

Thơ: THÁNG TÁM


                             Bùi Văn Tạo

                                            THÁNG TÁM

                                Tháng tám chiều lên xanh vời vợi 
                                Bãi bờ tiếng mõ gọi đàn trâu
                                Trăng cũng dệt tươi màu lụa mới
                                Đong đầy kỷ niệm gửi nơi đâu?

                                Tháng tám lúa về vai trĩu nặng
                                Đầu sân rồm rộm sắc rạ vàng
                                Mùa lên tận ngõ vui nô nức
                                Dẻo thơm cơm mới ấm no làng

                                Tháng tám Trung Thu đường quê nhớ
                                Trống "tùng, tùng, cắc" nhịp lân theo
                                Tết về em nhỏ mừng ngày hội
                                Xoe tròn ánh mắt ngắm đèn treo

                                Tháng tám cơn mưa qua bất chợt
                                Che nghiêng nhành lá mỏng manh nào
                                Lúng liếng mắt cười sau làn tóc
                                Dặm đời bỗng chốc nhớ nôn nao!

                                Tháng tám nhịp chày thơm hương cốm
                                Yên bình mây nước đượm tình quê
                                Mãi còn lắng đọng trong kí ức
               Hương sắc trời thu mỗi độ về

                                            Chiều 11 tháng 8 Nhâm Thìn 2012

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

BÈ RỚ MỘT NÉT LÀNG NGHỀ XƯA TRÊN SÔNG NƯỚC

Bùi Văn Tạo

BÈ RỚ, MỘT NÉT LÀNG NGHỀ XƯA
TRÊN SÔNG NƯỚC QUẢNG NGÃI
     
      Bè rớ là một loại nghề của ngư dân có từ rất lâu, hoạt động đường sông lạch vùng gần biển. Lênh đênh trên sông nước với cụm từ “giang khê vi nghiệp”, lúc đầu họ không sống thành làng mà chỉ quan hệ nhóm bạn nghề. Trải bao năm tháng, ngày nay hầu như không còn nữa, nhưng là một nét văn hóa nghề sông gần gũi với thiên nhiên mà các thế hệ sau nên biết đến.
      Bè rớ gồm bè và rớ. Bè được làm bằng tre tươi dài nguyên cây, thường là tre nang già. Mỗi bè được xếp từ bốn đến năm lớp tre, rộng độ ba mét. Cách làm, trước tiên người ta dùng tre cây đã trảy sạch mắt, xếp sát nhau thành lớp, chia khoảng đều và đặt bốn đến năm đà ngang rồi buộc chặt tre vào đà bằng dây rừng, lạt cật hay cước sợi lớn. Cứ thế người ta xếp tiếp các lớp khác, lớp trên cùng toàn tre thẳng tạo nên bề mặt tương đối phẳng, là chỗ sinh hoạt gia đình, hoạt động nghề nghiệp. Nửa bè phía gốc người ta dựng một sườn khoang như khoang thuyền, và phủ kín bên ngoài bằng tấm nang tre đan kín, trát dầu rái để che mưa nắng, về sau họ thay tấm nang bằng tôn kẽm. Khoang bè không thể lớn được, chỉ tạm đủ cho một gia đình vợ chồng và con cái ăn ở. Sau khoang là sân nhỏ dùng cho sinh hoạt hằng ngày, nấu ăn, chăn nuôi,…Còn trước khoang là sân nghề, ngoài đầu mũi bè người ta đặt một giàn rớ. Giàn rớ gồm hai cần tre dài, to bằng cổ chân người lớn, nhưng chắc chắn, liên kết cố định hình chữ V một bên dài, một bên ngắn. Chỗ khớp hai cần được nối động với một trục nằm ngang gắn chặt vào mặt bè. Cần dài vươn ra phía nước, người ta dùng dây thật bền buộc vào đầu cần bốn gọng tre xếp chữ thập tạo nên hai cánh cung chéo nhau ở giữa, mỗi gọng là một cây tre nhỏ, dài hơn năm mét. Đầu còn lại của bốn gọng được buộc chắc vào bốn góc làm căng một tấm lưới vuông, cạnh chừng sáu mét, lỗ lưới rộng cỡ một phân gọi là rớ. Cần ngắn hơn ở phía khoan có tác dụng tạo lực đối trọng khi cất rớ. Mỗi cần còn được gia cố thêm vài cây tre cho cứng cáp và làm nhiều bực thang để trèo lên hay lùi xuống dễ dàng. Muốn  đặt rớ xuống sông, người ta leo dần theo bực thang lên phía ngọn cần dài để đè rớ cho chìm hẳn xuống đáy nước. Muốn cất rớ phải thêm người trong gia đình trèo ngược lên phía đầu gọng ngắn, tạo lực đối trọng cho rớ cất nhanh lên khỏi mặt nước, nếu không cá sẽ thoát ra ngoài. Do vậy, suốt thời gian làm nghề, cả nhà vừa cất rớ vừa bắt cá, chung sức thật vui.
       Hàng năm thời gian hoạt động nghề khá dài, thường bắt đầu từ cuối mùa đông khi lũ lụt đã vơi dần, qua suốt những tháng nắng đến đầu mùa mưa năm sau, thịnh nhất là vào những đêm tối trời và nước trong. Muốn nhử cá, người ta treo đèn sáng rực giữa rớ ngay trên đầu gọng để cá thấy ánh sáng mà tụ đến. Mỗi mẻ rớ, từ khi đặt xuống đáy nước đến khi cất lên chừng hơn mười phút. Gặp lúc cá nhiều, cảnh cất rớ nô nức hẳn, họ chạy lên cần rớ dài phía sông rồi lại chạy lên cần ngắn phía khoang, đều đều như thế, và cá được bắt vào đầy giỏ, đó là phút giây hạnh phúc, no ấm của nghề sông nước. Đến cuối thu, khi mưa nguồn về mạnh, nước đục sông, người ta lần lượt chèo bè đến những vùng sông lạch bình yên để vừa hành nghề sinh nhai, vừa tránh bão lũ làm trôi bè; bởi bè là sản nghiệp của họ như ruộng vườn của nhà nông. Hằng ngày, ngoài thời gian tác nghiệp, cả nhà nghỉ ngơi, sinh hoạt, vui chơi cũng trên chiếc bè. Xưa kia cuộc sống ngư dân bè rớ có phần cách biệt với đất liền vì luôn di động trên sông lạch, tìm chỗ cá nhiều để đánh bắt. Họ chỉ giao tiếp với cư dân trên bờ vào những lúc đem cá đến chợ hay bán rong đường thôn xóm, và mua những thứ cần thiết. Ở đâu cũng nhớ ông cha, trong khoang chỗ trang trọng nhất ngư dân bè rớ đặt bàn thờ tổ tiên, ngoài khoan trên cao lại đặt một trang nhỏ thờ thần sông nước, cũng là nét văn hóa tâm linh chung trong đời sống người Việt.
       Ngày trước do cách sống “giang khê” nên trẻ con của ngư dân bè rớ thiếu điều kiện học hành. Trong gia đình khi con cái đến tuổi trưởng thành, cha mẹ dành dụm tiền của tạo một chiếc bè mới như chia của cho con, sau cưới hỏi là tách riêng gia đình. Và họ thường tìm bạn đời nhau, cưới  hỏi với người trong bạn nghề để dễ hiểu, dễ sống. Rồi đất nước đổi thay phát triển, dần dần ngư dân bè rớ cũng nhận ra cuộc đời nếu mãi lênh đênh trên sông lạch sẽ chịu nhiều thua thiệt, con trẻ không được hòa nhập cùng chúng bạn,...Từ đó, họ rủ nhau lên những triền sông lập xóm để vừa có điều kiện chung sống với cư dân đất liền, vừa thuận tiện nghề sông nước. Những xóm ấy nay trở thành làng đông vui, trai gai tự do lập gia đình với bạn đồng trương lứa của nhiều tầng lớp xã hội trong cộng đồng cư dân nông thôn.
        Năm tháng trôi qua, sông vẫn bên bồi bên lở, còn cuộc sống của ngư dân bè rớ đã đổi thay khác hẳn hơn xưa. Đến nay, nghề bè rớ hầu như vắng bóng, người già nua đã qua đời, trẻ con trở thành trai tráng, nhưng hình ảnh chiếc bè, cảnh gia đình cùng nhau cất rớ, ánh lửa lập lòe trên sông, cuộc sống ngược xuôi theo dòng nước, rồi đến lúc phải lên bờ định cư lập nghiệp mới,…. Tất cả những điều đó mãi là nét văn hóa đẹp chứa đựng tình cảm quê hương vùng hạ lưu vùng sông nước Quảng Ngãi.
  

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

Thơ: YÊU

                          Bùi Văn Tạo

                                                YÊU

                              Yêu là hương vị của gừng cay
                              Muối mặn tình em cách biệt ngày
                              Anh sẽ làm mây hay gió nhẹ
                              Che đường em mát tóc vương bay

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

THANG TƯ NHUNG NHỚ



                    Bùi Văn Tạo

          THÁNG TƯ NHUNG NHỚ

Chia tay hương sắc mùa xuân
Chạnh lòng một khoảng bâng khuâng giao mùa
Râm ran trong tán lá trưa
Tiếng ve say hát cũng vừa tháng tư
Em còn như tuổi đôi mươi?
Bến sông soi tóc để người đợi trông
Sau hè rau đắng trổ bông
Chiều lên vi vút tầng không nắng vàng
Yên bình mây trắng lang thang
Đi qua vô định ngút ngàn đường xa
Giữa mùa mướp rực vàng hoa
Vườn xanh sai quả thướt tha đầu cành
Đất trời vào hạ treo tranh
Gửi em trái chín ngọt lành đậm hương
Lam lam chiều nét quê hương
                             Tháng tư nỗi nhớ người thương lại về!

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012

TÍNH DÂN TỘC VÀ HIỆN ĐAI TRONG SÁNG TÁC VÀ BIỂU DIỄN CA KHÚC Ở QUẢNG NGÃI

Bùi Văn Tạo

                       TÍNH DÂN TỘC VÀ HIỆN ĐẠI TRONG
        SÁNG TÁC VÀ BIỂU  DIỄN CA KHÚC Ở QUẢNG NGÃI

        Âm nhạc hiện đại được hiểu theo góc độ có nguồn gốc từ phương Tây, hình thành và phát triển qua nhiều thế kỷ. Hệ thống âm hình, tiết tấu, nhịp phách, điệu thức,…là cơ sở để các nhà soạn nhạc làm nên những tác phẩm nhạc không lời, có lời,…tồn tại mãi với thời gian. Âm nhạc hiện đại du nhập vào Việt Nam khoảng đầu thế XX, cùng với âm nhạc cổ truyền tạo nên diện mạo riêng cho âm nhạc nước nhà. Nhiều tác phẩm tân nhạc hay đã ra đời trong giai đoạn nầy của các nhạc sĩ: Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao, Tô Vũ, Đặng Thế Phong, Nguyễn Đình Phúc, Phạm Duy, Văn Chung,...Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, âm nhạc đã góp phần không nhỏ trong giáo dục tình yêu quê hương, cổ vũ tinh thần độc lập, gương hy sinh cao cả,…để rồi đất nước đến ngày toàn thắng. Trong xu thế đổi mới, hội nhập và phát triển, làn sóng âm nhạc thế giới càng lan nhanh vào nước ta. Cho nên, phát huy tính dân tộc và hiện đại trong sáng tác, biểu diễn ca khúc là vấn đề luôn cần được sự quan tâm của các cấp quản lý, lực lượng sáng tác, biểu diễn,…và người thưởng thức cả nước nói chung và Quảng Ngãi nói riêng.
       Trước hết nói về âm nhạc của người trưởng thành. Các thế hệ nầy, đa số tiếp cận âm nhạc thông qua hệ thống các bài hát trên đài phát thanh truyền hình, băng đĩa nhạc hay buổi biểu diễn, nghe dần thành thâm nhập. Họ thích nghi với dòng nhạc ca ngợi tình yêu quê hương, lứa đôi, giai điệu nhẹ nhàng, ca từ gần gũi với cuộc sống. Một số tác phẩm có tính học thuật cao, ca từ chứa đựng triết lý sâu xa được giới am hiểu âm nhạc tiếp nhận ghi nhớ như điều kinh điển. Đáp ứng nhu cầu trên, các nhạc sĩ Quảng Ngãi đã sáng tác nhiều ca khúc có giá trị lưu hành rộng rãi trong công chúng, có thể kể một số đại diện như: Tiếng đàn xe nước của Văn Đông; Hỡi dòng sông Trà của Thế Bảo; Quảng Ngãi đất mẹ ngoan cường của Trương Quang Lục; Nghe câu hò Ba lý của Trần Xuân Tiến; Quảng Ngãi nhớ thương của Nguyễn Tuấn; Hợp xướng Chân sóng của Văn Phượng; Con đò thời gian của Phạm Tuy; Biển đảo nghìn trùng Tổ quốc ta của Điền Sơn; Quảng Ngãi trong tôi của Đình Thậm; Màu xanh thời gian của Dương Quang Hùng; Cô giáo Plây em của Võ Văn Hoàng và rất nhiều ca khúc hay của nhiều nhạc sĩ Quảng Ngãi khác (không thể liệt kê hết được). Nhiều nhạc sĩ ngoài tỉnh cũng đã dành tình cảm viết nhiều bài hát cho Quảng Ngãi như Du kích Ba Tơ của Dương Minh Viên; Hương quế Trà Bồng của Đào Việt Hưng;…Dòng ca khúc nầy phảng phất làn điệu dân ca, câu hò, câu hố miền xuôi, miền ngược xứ Quảng. Đối với âm nhạc dân gian vùng cao của đồng bào Hre, Kor, Ca dong là các làn điệu Ta lêu ta choi, Dê oh dê,…Âm hưởng cồng chiêng và điệu múa vào mùa phát rẫy, lễ hội đâm trâu từng làm sôi động núi rừng, phản ảnh cuộc sống gần gũi thiên nhiên của đồng bào nơi Trường Sơn đại ngàn. Các nhạc sĩ Quảng Ngãi đã khai thác những chất liệu dân gian đó, vận dụng âm nhạc hiện đại vào để làm nên những tác phẩm có giá trị lớn trong đời sống công chúng, tiêu biểu như: Giấc hương mùa của Trần Xuân Tiên đậm chất Hre; Mời rượu cần của Đinh Thiên Vương đậm chất Ca dong; Đêm hội làng Kor của Minh Châu đậm chất Kor; và nhiều tác giả, tác phẩm khác,…Các nhạc sĩ, nhạc công đã sử dụng linh hoạt những tiết điệu, với nhiều nhạc cụ hiện đại và dân tộc để phối nhạc đệm cho mỗi tác phẩm, chất lượng khá tốt. Những ca khúc nói trên, nhiều biên đạo, ca sĩ, diễn viên Quảng Ngãi đã dàn dựng và biểu diễn thành công tại nhiều lần hội thi, hội diễn trong, ngoài tỉnh. Các làn điệu dân ca Trung Trung bộ, trong đó có nét riêng Quảng Ngãi cũng được các nhạc sĩ ký âm, đặt lời mới và các ca sĩ đã trình diễn tạo nên nhiều tiết mục đậm đà bản sắc dân tộc, được công chúng ngưỡng mộ. Còn thể loại nhạc trẻ hiện nay, ca từ đơn giản, tiết nhịp rộn ràng với sự hỗ trợ đắc lực của các loại nhạc cụ được nhiều bạn trẻ ưa thích, nhưng chưa thịnh ở Quảng Ngãi.
       Đối với thiếu nhi, thiếu niên, từ chất liệu dân gian như: đồng dao, hò vè,…các nhạc sĩ đã sáng tác nên những ca khúc cho thiếu niên, thiếu nhi. Dòng ca khúc nầy được các em tiếp nhận, say sưa hát ở trường lớp, gia đình hay những lần công diễn, họp bạn,…Hình ảnh quê hương lại hiện về trong tâm hồn tuổi thơ xứ Quảng và lan rộng đến nhiều miền đất nước. Tiêu biểu cho phong trào nầy là nhạc sĩ Trần Xuân Tiên với nhiều ca khúc, tổ khúc, mà các em thiếu niên, thiếu nhi đã từng dự thi cấp trung ương đạt giải cao.
       Về lực lượng biểu diễn, các nghệ sĩ dàn dựng sân khấu Quảng Ngãi thiên về thể loại hát múa với số lượng diễn viên đông. Tùy theo yêu cầu của cuộc thi hay đêm diễn, khá nhiều tiết mục đã khai thác được nét đẹp dân gian Việt Nam nói chung và Quảng Ngãi nói riêng, thể hiện qua phong cách diễn ca, sắc màu hóa trang, động tác múa,…Nghệ thuật múa, khiêu vũ phương Tây cũng được vận dụng hợp lý vào những chỗ dùng sức bật nâng người, xoay người để tiết mục sinh động. Trong thời gian gần đây thể loại Aerobic phát triển trong hội thi, hội diễn của học sinh, được coi như múa vui khỏe trên nền nhạc; và các nghệ sĩ dàng dựng đã tích cực sử dụng nhạc Việt.
       Miền Trung - Tây Nguyên, vùng đất trầm tích đa tầng văn hóa, là kho tàng vô giá văn nghệ dân gian. Thể hiện tính dân tộc và hiện đại trong sáng tác, biểu diễn ca khúc là trách nhiệm của người soạn nhạc, người dàn dựng, người biểu diễn nhằm gìn giữ bản sắc và phát triển âm nhạc Việt Nam, trong đó có Quảng Ngãi. Còn người thưởng thức nói chung và các bạn trẻ cần tiếp nhận, cổ vũ cho sự kết hợp hài hòa phát triển tính dân tộc và hiện đại trong âm nhạc cũng là điều rất cần thiết.