Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Văn: THẠCH NHAM SƠN THỦY HỮU TÌNH

Bùi Văn Tạo

               THẠCH NHAM SƠN THUỶ HỮU TÌNH          
       
        Quảng Ngãi được nhiều nơi biết đến bởi truyền thống lịch sử, truyền thống văn hoá và những cảnh đẹp thiên nhiên. Sau ngày thống nhất đất nước, tính đến nay đã có khá nhiều công trình kiến tạo mới trên các lĩnh vực công nông nghiệp, giao thông, văn hoá, thể thao, du lịch,…phục vụ dân sinh và góp sức tô bồi thêm vẻ đẹp cho quê hương. Công trình thuỷ lợi Thạch Nham, hồ chứa nước, đập tràn,…mang dáng dấp vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình.
        Ngược dòng Trà Giang về phía thượng nguồn, qua các thắng cảnh Long Đầu Hí Thuỷ, Hà Nhai Vãn Độ, và những cồn bãi nên thơ đến nơi giáp ranh ba huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh và Tư Nghĩa ta gặp công trình thuỷ nông Thạch Nham. Đập nước ngăn dòng sông Trà hợp với thế núi tạo nên một hồ nước lớn, dung lượng có thể tưới cho 50 ngàn héc ta đất nông nghiệp thuộc các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Thành phố Quảng Ngãi, Mộ Đức, Đức Phổ. Toàn bộ lòng hồ chính là đoạn sông dài từ xã Sơn Nham đến Sơn Linh, Sơn Giang,…huyện Sơn Hà. Phía bắc, dãy núi Đá Vách ( người địa phương thường gọi) dựng thẳng, phía nam là vùng đất bãi rồi đến đồi núi chập chùng. Đập tràn nối liền nơi nhô ra của hai mõm núi vững chắc ở hai bờ. Cung cấp nước cho hồ là vùng rừng núi các xã thuộc huyện Sơn Hà, Sơn Tây, Ba Tơ, Trà Bồng. Hai tuyến kênh chính hai bên đập dẫn nước về đồng bằng nam, bắc tỉnh, nó cần mẫn như mạch máu và thân thiết như tình quê xứ Quảng. Phong cảnh Thạch Nham mỗi mùa một vẻ. Mùa xuân, hồ nước trong xanh êm ả, trên bờ núi đồi khoe sắc tươi non. Xa xa, hoa rừng và chim thi nhau trổ tài. Tiếng chim thì lanh lảnh còn hoa thi sắc thắm. Mùa hạ, mùa thu, những buổi chiều về nếu là những ngày trong trẻo, mây trắng bình yên lướt qua mặt hồ rồi theo dòng nước trôi về những cánh đồng xa. Còn những chiều giông gió, hồ nước sục sôi bởi muôn ngàn con suối to nhỏ đổ về và mây như ôm lấy mặt hồ. Khi mùa đông bão lũ kéo đến, người xem tha hồ mà chứng kiến cảnh dòng nước vượt đập tràn, cống xả, tung bụi nước mù mịt một vùng rồi hối hả trôi về phía miền xuôi. Hai đầu đập tràn là hai tháp nhà cao, hệ thống van đóng mở nước theo sự điều khiển của con người. Nơi đây có hai công viên nhỏ nhưng đẹp, là chỗ ở của đội bảo vệ đập, du khách có thể tham quan, sinh hoạt dã ngoại, ngắm hồ nước, đập nước theo hướng dẫn của người quản lý. Thú vị nhất là những ngày đẹp trời, vượt qua đèo Bẻ Lá, theo con đường bộ phía nam hồ đi về phía Sơn Nham mà ngắm nhìn cảnh bình minh hay hoàng hôn sông núi. Hoặc giả, bơi thuyền ngược dòng lên các xã vùng cao Sơn Linh, Sơn Giang hay xa hơn nữa…Thuyền đi chầm chậm, có lúc qua ghềnh, người ngắm cảnh sắc núi đồi, nghe tiếng chim gọi bạn và xem hoa rừng đua nở, nhất là vào mùa xuân. Ấn tượng cuộc sống vùng cao hiện lên trên nương rẫy, trên bản làng màu ngói mới, trên nếp nhà sàn còn lại ít ỏi của người dân tộc. Nếu là dịp vào mùa phát rẫy, mùa cơm mới hay khi làng có lễ hội thì rộn ràng tiếng chiêng, lúc ầm uông, lúc thì thụp vang vang vách núi. Còn đứng bên đập nước nhìn về phía hạ lưu, lòng sông là bãi đá, to nhỏ đủ kích cở. Một chiếc cầu mà người ta thường gọi là cầu chìm, vì nó cách mặt nước không cao lắm, là chiếc cầu bắt qua sông Trà trên tuyến đường nối liền trung tâm tỉnh lên các xã phía tây huyện Tư Nghĩa , Sơn Tịnh, Sơn Hà.
          Ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ thường có đoàn tham quan của các cơ quan, dân chúng hay học sinh các nơi đến đầu mối Thạch Nham, ngắm phong cảnh, chụp hình lưu niệm, hoặc nghỉ ngơi trong ngày…Đây là dịp để mọi người cảm nhận những đổi thay đáng kể của nông nghiệp Quảng Ngãi trong sự phát triển chung của tỉnh. Điểm tham quan hồ nước Thạch Nham có thể mở thêm cung đường sông với thuyền nhỏ về phía thượng nguồn sông Trà, để du khách có dịp thâm nhập cuộc sống đồng bào miền tây xứ Quảng, thưởng thức các món ăn cá niên, ốc đá,…hay cơm lam và món thịt nướng chín trong ống lồ ô tươi, thơm ngon, hoang sơ nhưng đầy thú vị.  Như thế, điểm tham quan vừa giới thiệu thành quả nông nghiệp, cũng vừa giới thiệu văn hoá bản địa vùng cao. Về lâu về dài, giải pháp tái tạo, gìn giữ và phát triển rừng nguyên sinh, tái sinh, rừng trồng phòng hộ đầu nguồn để cung cấp nước cho hồ Thạch Nham là điều tối cần thiết. Thạch Nham là công trình thuỷ nông cấp tỉnh, giá trị kinh tế to lớn nhưng cũng là nơi đậm nét sơn thuỷ hữu tình!


Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Thơ LÀNG


                      Bùi Văn Tạo

                                        LÀNG

                      Làng xưa còn có cây đa cũ
                      Bóng trải xanh dài rộn tiếng chim
                      Vây làng ấp ủ tre xanh ngát
                      Dậu vườn dâm bụt nở hoa xinh

                      Làng xưa ngô lúa vui no ấm
                      Bến nước đường quê đợi em về
                      Nhớ mùa tim tím hoa xoan nở
                      Còn thoảng hương thơm mái tóc thề
                 
                      Làng qua năm tháng nhiều thay đổi
                      Lúa  mượt xanh đồng có ít hơn
                      Cau cũng vắng dần trưa in bóng
                      Bướm nhớ vườn rau cứ rập rờn

                      Làng nay tường gạch sân xây mới
                      In dấu tháng năm vật đổi dời
                      Dưa cà khoai sắn giờ xa vắng
                      Vui mà tha thiết chuyện bao đời !

                      Làng mãi trong lòng niềm thương cảm
                      Nắng sớm mưa chiều những người thân
                      Đất trời trong ánh bình minh rọi
                      Xúc động ngày lên biết bao lần !
                                            

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Văn: THÚ CHƠI CÂY CẢNH PHỐI ĐÁ VÔI

Bùi Văn Tạo

                      THÚ CHƠI CÂY CẢNH PHỐI ĐÁ VÔI

      Thú chơi cây cảnh có rất lâu trong đời sống người Việt. Người chơi hoa kiểng gửi gắm tâm tình, ý tưởng và có khi tính cách của mình qua tạo thế cây. Khi đã vào hàng nghệ nhân, người chơi cây khai thác được các ưu thế kiểu dáng cây tự nhiên, chỉnh sửa rồi đặt cho nó những cái tên hay và ý nghĩa như: huyền chi lạc địa, long bàn hổ phục, phụ tử giao chi,…Bên cạnh thú chơi cây cảnh còn có thú chơi non bộ đá vôi với những luật tạo hình nghiêm ngặt mà hấp dẫn. Hai loại hình nghệ thuật nầy gặp nhau tạo nên loại hình mới: cây cảnh phối đá vôi, vừa đẹp vừa giàu tính sáng tạo.
     Nếu đơn lẻ riêng cây, một cây kiểng đẹp phải có tuổi đời khoảng ba mươi năm trở lên, thân có độ to tương đối, cành chi dích dắc thể hiện từng trải năm tháng, nắng mưa, dáng thế trực hoành tuỳ cây và sở thích của người chơi. Đối với non bộ, để có ngọn giả sơn ấn tượng phải có những tảng đá đẹp, liên kết nhau theo một qui tắc nghệ thuật của thú chơi nầy. Việc dựng non bộ cũng khá công phu bởi phải đẹp như núi non thật và tránh những điêu cấm kỵ như xuyên tâm, triệt đạo,…Còn cây kiểng phối đá thì có thể vận dụng hài hoà để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật sống mà vẻ đẹp có thể đi xa hơn. Lợi dụng ưu điểm đá vôi mềm, dễ tạo hình và thấm nước từ đáy lên đỉnh nên người ta dùng đá vôi cục nhỏ xếp lại thành cụm to, cao rồi đặt cây cảnh lên. Khi rễ đã bám chằng chịt vào đá và phát triển thì cụm đá trở thành gốc cây, lúc đó cây có bộ đế vững vàng, tác giả tạo hình chỉ việc sửa chi thế, còn gốc cây càng ngày vẻ cổ xưa càng được biểu lộ. Tuy đá vôi chưa phải là loại quí hiếm, nhưng cũng có những tảng to, hình dạng đẹp, dân chơi cây cảnh gọi là đá một. Lợi dụng thế đứng vững vàng, đường nét nghệ thuật của những tảng nầy, người ta đặt nó lên hồ, chậu to rồi chọn vị trí phù hợp mà cho cây bám đá (thường là cây sanh), làm thế nào để nhìn toàn cảnh đá và cây trông đẹp hơn. Khi cây đã sống, rễ sẽ phát triển ôm tảng đá và men dần xuống nước. Từ đó, rễ ngày một lớn thêm, hình thù như trăn bò, rắn lượn, còn thân cây phát triển theo hướng vươn ra bờ vực cheo leo, buông rễ phụ xuống mặt hồ giống bức rèm thiên nhiên treo giữa chốn hoang sơ. Người ta còn phối trí cây kiểng và non bộ bằng cách dựng đá thành núi non, đồng bằng, sông rạch rồi đặt vào chỗ hợp lý những cây kiểng đẹp. Loại hình nầy tạo cho người xem hình tượng về những miền quê bên sông, bên núi, có cây cổ thụ đứng đầu làng hay lặng lẽ chốn sườn non. Và cứ thế, cây in dấu thời gian năm tháng, đá rêu phong dầu dãi, một vài chú tiều làm bằng sứ hay mấy con trâu đất nằm gặm cỏ bên sông, đưa người thưởng ngoạn về một không gian làng Việt cổ xưa, nên thơ đáng nhớ. Ngay cả trong phòng khách sang trọng, chậu kiểng mi ni chỉ một cây dáng thế nghiêng nghiêng như người con gái duyên dáng chào khách, được cân đối bởi tảng nhỏ đá đẹp đứng bên, sẽ tăng thêm ấn tượng cho những lần gặp gỡ.
       Về nguyên liệu trong loại hình nghệ thuật nầy ngoài đá vôi có nơi còn dùng đá ong. Thế nhưng người chơi phải chú ý đến việc bảo vệ môi trường cảnh quang thiên nhiên. Đá sử dụng phải từ những nơi được phép khai thác. Vẻ đẹp cây cảnh sân vườn có thể ví như văn chương trên trang giấy, còn môi trường thiên nhiên là văn chương của cả quê hương, đất nước.
       Nói chung, cây và đá là những vật vô tri, nhưng khi có bàn tay khối óc con người tác động nghệ thuật vào thì cây và đá lên tiếng nói tâm hồn. Một cây kiểng đứng riêng lẻ chỉ ở mức đẹp bình thường, một tảng đá vôi chưa nói được hình ảnh của núi sông, nhưng khi ghép chung lại theo một trật tự nào đó thì vẻ đẹp sẽ cộng hưởng. Tài năng của các nghệ nhân, của những người đam mê cây cảnh được bộc lộ trong tạo dáng cây, làm non bộ và phối đá cho cây kiểng. Trong cuộc sống ngày nay, khoa học kỹ thuật đang đà phát triển, nhiều miền quê đã trở thành đô thị, phong cảnh thiên nhiên lắm chỗ bị thu hẹp thì hoa kiểng trở thành nhu cầu như cơm ăn nước uống hằng ngày. Nghệ thuật cây cảnh phối đá là sự phối trí hài hoà giữa cây và đá, có khi là nét chấm phá, có khi liên kết tô bồi, thẩm mỹ cho nhau mà sản phẩm là những vật thể mô phỏng thiên nhiên sống động, hữu tình.

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012

Thơ: THÁNG TÁM


                             Bùi Văn Tạo

                                            THÁNG TÁM

                                Tháng tám chiều lên xanh vời vợi 
                                Bãi bờ tiếng mõ gọi đàn trâu
                                Trăng cũng dệt tươi màu lụa mới
                                Đong đầy kỷ niệm gửi nơi đâu?

                                Tháng tám lúa về vai trĩu nặng
                                Đầu sân rồm rộm sắc rạ vàng
                                Mùa lên tận ngõ vui nô nức
                                Dẻo thơm cơm mới ấm no làng

                                Tháng tám Trung Thu đường quê nhớ
                                Trống "tùng, tùng, cắc" nhịp lân theo
                                Tết về em nhỏ mừng ngày hội
                                Xoe tròn ánh mắt ngắm đèn treo

                                Tháng tám cơn mưa qua bất chợt
                                Che nghiêng nhành lá mỏng manh nào
                                Lúng liếng mắt cười sau làn tóc
                                Dặm đời bỗng chốc nhớ nôn nao!

                                Tháng tám nhịp chày thơm hương cốm
                                Yên bình mây nước đượm tình quê
                                Mãi còn lắng đọng trong kí ức
               Hương sắc trời thu mỗi độ về

                                            Chiều 11 tháng 8 Nhâm Thìn 2012

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

BÈ RỚ MỘT NÉT LÀNG NGHỀ XƯA TRÊN SÔNG NƯỚC

Bùi Văn Tạo

BÈ RỚ, MỘT NÉT LÀNG NGHỀ XƯA
TRÊN SÔNG NƯỚC QUẢNG NGÃI
     
      Bè rớ là một loại nghề của ngư dân có từ rất lâu, hoạt động đường sông lạch vùng gần biển. Lênh đênh trên sông nước với cụm từ “giang khê vi nghiệp”, lúc đầu họ không sống thành làng mà chỉ quan hệ nhóm bạn nghề. Trải bao năm tháng, ngày nay hầu như không còn nữa, nhưng là một nét văn hóa nghề sông gần gũi với thiên nhiên mà các thế hệ sau nên biết đến.
      Bè rớ gồm bè và rớ. Bè được làm bằng tre tươi dài nguyên cây, thường là tre nang già. Mỗi bè được xếp từ bốn đến năm lớp tre, rộng độ ba mét. Cách làm, trước tiên người ta dùng tre cây đã trảy sạch mắt, xếp sát nhau thành lớp, chia khoảng đều và đặt bốn đến năm đà ngang rồi buộc chặt tre vào đà bằng dây rừng, lạt cật hay cước sợi lớn. Cứ thế người ta xếp tiếp các lớp khác, lớp trên cùng toàn tre thẳng tạo nên bề mặt tương đối phẳng, là chỗ sinh hoạt gia đình, hoạt động nghề nghiệp. Nửa bè phía gốc người ta dựng một sườn khoang như khoang thuyền, và phủ kín bên ngoài bằng tấm nang tre đan kín, trát dầu rái để che mưa nắng, về sau họ thay tấm nang bằng tôn kẽm. Khoang bè không thể lớn được, chỉ tạm đủ cho một gia đình vợ chồng và con cái ăn ở. Sau khoang là sân nhỏ dùng cho sinh hoạt hằng ngày, nấu ăn, chăn nuôi,…Còn trước khoang là sân nghề, ngoài đầu mũi bè người ta đặt một giàn rớ. Giàn rớ gồm hai cần tre dài, to bằng cổ chân người lớn, nhưng chắc chắn, liên kết cố định hình chữ V một bên dài, một bên ngắn. Chỗ khớp hai cần được nối động với một trục nằm ngang gắn chặt vào mặt bè. Cần dài vươn ra phía nước, người ta dùng dây thật bền buộc vào đầu cần bốn gọng tre xếp chữ thập tạo nên hai cánh cung chéo nhau ở giữa, mỗi gọng là một cây tre nhỏ, dài hơn năm mét. Đầu còn lại của bốn gọng được buộc chắc vào bốn góc làm căng một tấm lưới vuông, cạnh chừng sáu mét, lỗ lưới rộng cỡ một phân gọi là rớ. Cần ngắn hơn ở phía khoan có tác dụng tạo lực đối trọng khi cất rớ. Mỗi cần còn được gia cố thêm vài cây tre cho cứng cáp và làm nhiều bực thang để trèo lên hay lùi xuống dễ dàng. Muốn  đặt rớ xuống sông, người ta leo dần theo bực thang lên phía ngọn cần dài để đè rớ cho chìm hẳn xuống đáy nước. Muốn cất rớ phải thêm người trong gia đình trèo ngược lên phía đầu gọng ngắn, tạo lực đối trọng cho rớ cất nhanh lên khỏi mặt nước, nếu không cá sẽ thoát ra ngoài. Do vậy, suốt thời gian làm nghề, cả nhà vừa cất rớ vừa bắt cá, chung sức thật vui.
       Hàng năm thời gian hoạt động nghề khá dài, thường bắt đầu từ cuối mùa đông khi lũ lụt đã vơi dần, qua suốt những tháng nắng đến đầu mùa mưa năm sau, thịnh nhất là vào những đêm tối trời và nước trong. Muốn nhử cá, người ta treo đèn sáng rực giữa rớ ngay trên đầu gọng để cá thấy ánh sáng mà tụ đến. Mỗi mẻ rớ, từ khi đặt xuống đáy nước đến khi cất lên chừng hơn mười phút. Gặp lúc cá nhiều, cảnh cất rớ nô nức hẳn, họ chạy lên cần rớ dài phía sông rồi lại chạy lên cần ngắn phía khoang, đều đều như thế, và cá được bắt vào đầy giỏ, đó là phút giây hạnh phúc, no ấm của nghề sông nước. Đến cuối thu, khi mưa nguồn về mạnh, nước đục sông, người ta lần lượt chèo bè đến những vùng sông lạch bình yên để vừa hành nghề sinh nhai, vừa tránh bão lũ làm trôi bè; bởi bè là sản nghiệp của họ như ruộng vườn của nhà nông. Hằng ngày, ngoài thời gian tác nghiệp, cả nhà nghỉ ngơi, sinh hoạt, vui chơi cũng trên chiếc bè. Xưa kia cuộc sống ngư dân bè rớ có phần cách biệt với đất liền vì luôn di động trên sông lạch, tìm chỗ cá nhiều để đánh bắt. Họ chỉ giao tiếp với cư dân trên bờ vào những lúc đem cá đến chợ hay bán rong đường thôn xóm, và mua những thứ cần thiết. Ở đâu cũng nhớ ông cha, trong khoang chỗ trang trọng nhất ngư dân bè rớ đặt bàn thờ tổ tiên, ngoài khoan trên cao lại đặt một trang nhỏ thờ thần sông nước, cũng là nét văn hóa tâm linh chung trong đời sống người Việt.
       Ngày trước do cách sống “giang khê” nên trẻ con của ngư dân bè rớ thiếu điều kiện học hành. Trong gia đình khi con cái đến tuổi trưởng thành, cha mẹ dành dụm tiền của tạo một chiếc bè mới như chia của cho con, sau cưới hỏi là tách riêng gia đình. Và họ thường tìm bạn đời nhau, cưới  hỏi với người trong bạn nghề để dễ hiểu, dễ sống. Rồi đất nước đổi thay phát triển, dần dần ngư dân bè rớ cũng nhận ra cuộc đời nếu mãi lênh đênh trên sông lạch sẽ chịu nhiều thua thiệt, con trẻ không được hòa nhập cùng chúng bạn,...Từ đó, họ rủ nhau lên những triền sông lập xóm để vừa có điều kiện chung sống với cư dân đất liền, vừa thuận tiện nghề sông nước. Những xóm ấy nay trở thành làng đông vui, trai gai tự do lập gia đình với bạn đồng trương lứa của nhiều tầng lớp xã hội trong cộng đồng cư dân nông thôn.
        Năm tháng trôi qua, sông vẫn bên bồi bên lở, còn cuộc sống của ngư dân bè rớ đã đổi thay khác hẳn hơn xưa. Đến nay, nghề bè rớ hầu như vắng bóng, người già nua đã qua đời, trẻ con trở thành trai tráng, nhưng hình ảnh chiếc bè, cảnh gia đình cùng nhau cất rớ, ánh lửa lập lòe trên sông, cuộc sống ngược xuôi theo dòng nước, rồi đến lúc phải lên bờ định cư lập nghiệp mới,…. Tất cả những điều đó mãi là nét văn hóa đẹp chứa đựng tình cảm quê hương vùng hạ lưu vùng sông nước Quảng Ngãi.
  

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

Thơ: YÊU

                          Bùi Văn Tạo

                                                YÊU

                              Yêu là hương vị của gừng cay
                              Muối mặn tình em cách biệt ngày
                              Anh sẽ làm mây hay gió nhẹ
                              Che đường em mát tóc vương bay

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

THANG TƯ NHUNG NHỚ



                    Bùi Văn Tạo

          THÁNG TƯ NHUNG NHỚ

Chia tay hương sắc mùa xuân
Chạnh lòng một khoảng bâng khuâng giao mùa
Râm ran trong tán lá trưa
Tiếng ve say hát cũng vừa tháng tư
Em còn như tuổi đôi mươi?
Bến sông soi tóc để người đợi trông
Sau hè rau đắng trổ bông
Chiều lên vi vút tầng không nắng vàng
Yên bình mây trắng lang thang
Đi qua vô định ngút ngàn đường xa
Giữa mùa mướp rực vàng hoa
Vườn xanh sai quả thướt tha đầu cành
Đất trời vào hạ treo tranh
Gửi em trái chín ngọt lành đậm hương
Lam lam chiều nét quê hương
                             Tháng tư nỗi nhớ người thương lại về!